Lịch âmCông cụ tínhDashboardSPECIAL
Tin mớiNgân hàngVN30
Banker.vn - Tin tức Tài chính Ngân hàng
banner
  • Trang chủ
  • Ngân hàng
  • Thị trường
  • Tài chính
  • Quốc tế
  • Công nghệ
  • Xã hội
  • Đầu tư
  • Năng lượng
  • FTA
  • Giá xe
HOT
Banker Logo
Tin mới
Banker Logo
Trang chủ

Tài chính - Ngân hàng

Ngân hàng
Thị trường
Tài chính
Đầu tư

Tin tức

Quốc tế
Công nghệ
Xã hội
Năng lượng
FTA

Tiện ích

Giá xe
Tin mới nhất
Trang chủChứng khoán

Chuyển đổi số ngành Ngân hàng 2025: Đột phá từ hành lang pháp lý và một số giải pháp cho giai đoạn tới

20/02/2026 - 09:4023 phút đọcGoogle News

(Banker.vn) Bài viết sẽ tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về xây dựng khung pháp lý để thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng và đưa ra một số giải pháp để Việt Nam tiếp tục cải cách thể chế pháp lý trong thời gian tới.

Tóm tắt: Tại Việt Nam, ngành Ngân hàng đang giữ vị thế tiên phong trong quá trình chuyển đổi số của quốc gia, các ngân hàng đang “chạy đua” trong chiến lược chuyển đổi số toàn diện, từ áp dụng công nghệ số, giải pháp thanh toán thông minh đến nâng cao chất lượng dịch vụ, tối ưu quy trình… Tuy vậy, những vướng mắc về pháp lý vẫn được xem là trở ngại lớn đối với quá trình chuyển đổi số ngành Ngân hàng nói riêng và phát triển kinh tế số tại Việt Nam nói chung. Bài viết sẽ tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về xây dựng khung pháp lý để thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng và đưa ra một số giải pháp để Việt Nam tiếp tục cải cách thể chế pháp lý trong thời gian tới.

Từ khóa: Ngành Ngân hàng, chuyển đổi số, hành lang pháp lý

Banking sector digitalization: Breakthrough from legal framework and solutions for the next period

Abstract: In Vietnam, the banking sector is the frontrunner in digitalization. Banks are competing with comprehensive digitalization strategy, applying technology to develop new products and streamline internal processes. However, the legal framework in Vietnam remains a major challenge, hindering the pace of digitalization in banks as well as the whole economy. This article will study the best practices to build a legal framework to support digitalization of banking sector and provide some recommendations for regulators in Vietnam.

Keywords: Banking, digitalization, legal framework

Cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 đã và đang tạo ra những tác động to lớn tới hầu hết các hoạt động kinh tế - xã hội trên thế giới, trong đó, lĩnh vực ngân hàng đã chứng kiến những thay đổi rõ rệt khi ứng dụng các công nghệ mới, với sự ra đời của hàng loạt sản phẩm, dịch vụ hiện đại cùng mạng lưới phân phối dịch vụ tài chính mới trên nền tảng số. Tại Việt Nam, ngành Ngân hàng đang giữ vị thế tiên phong trong quá trình chuyển đổi số của quốc gia, các ngân hàng đang “chạy đua” trong chiến lược chuyển đổi số toàn diện, từ áp dụng công nghệ số, giải pháp thanh toán thông minh đến nâng cao chất lượng dịch vụ, tối ưu quy trình… Tuy vậy, những vướng mắc về pháp lý vẫn được xem là trở ngại lớn đối với quá trình chuyển đổi số ngành Ngân hàng nói riêng và phát triển kinh tế số tại Việt Nam nói chung. Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, Đảng và Chính phủ đã quyết tâm tháo gỡ khó khăn này để phát triển động lực tăng trưởng mới cho đất nước. Thời gian vừa qua, chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng đã chứng kiến những đột phá trong hành lang pháp lý, từ những nền móng cho chuyển đổi số nền kinh tế như Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đến những quy định mới trong lĩnh vực ngân hàng như Luật các TCTD sửa đổi, Nghị định 94/2025/NĐ-CP về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng, cho thấy quyết tâm của cơ quan quản lý trong thúc đẩy chuyển đổi số, kinh tế số. Bài viết sẽ tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về xây dựng khung pháp lý để thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng và đưa ra một số giải pháp để Việt Nam tiếp tục cải cách thể chế pháp lý trong thời gian tới.

1. Chuyển đổi số ngành ngân hàng thế giới

Công nghệ đang làm thay đổi cách thức vận hành của ngân hàng trên thế giới, khi các mô hình kinh doanh mới, sản phẩm dịch vụ hiện đại ngày càng trở nên phổ biến hơn. Các ngân hàng không chỉ còn tập trung vào các dịch vụ tài chính đơn thuần, mà đang hình thành các hệ sinh thái tài chính nhờ nền tảng công nghệ. Hệ sinh thái do các ngân hàng xây dựng sẽ bao gồm 3 lớp là dịch vụ ngân hàng cơ bản, dịch vụ ngân hàng bổ sung và dịch vụ phi ngân hàng, qua đó đáp ứng nhiều hơn nhu cầu của khách hàng với chi phí thấp hơn và thuận tiện hơn, tạo ra trải nghiệm liền mạch, xuyên suốt. Nhiều ngân hàng trên thế giới đã thành công với mô hình này như Commonwealth Bank (Úc) đã triển khai ứng dụng giao dịch nhà đất từ năm 2021, từ đó tích hợp để cung ứng các khoản vay mua nhà và các sản phẩm ngân hàng liên quan khác; DBS (Singapore) đã lập lên các sàn giao dịch (marketplace) ô tô vào năm 2017, sàn giao dịch bất động sản, điện năm 2018 và đã tích hợp các sản phẩm ngân hàng vào các sàn giao dịch này.

Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cũng đang có những thay đổi đáng kể nhờ ứng dụng công nghệ, mang lại trải nghiệm tốt hơn cho khách hàng và trở thành một lợi thế cạnh tranh lớn của các ngân hàng. Báo cáo Digital Banking Maturity (2024) của Deloitte phân tích 349 ngân hàng có các kênh giao dịch số tại 44 quốc gia cho thấy, những ngân hàng dẫn đầu các xu hướng kỹ thuật số và có quá trình chuyển đổi số tích cực nhất (digital champions) có thể mang lại giá trị gia tăng vượt trội cho khách hàng. Các ngân hàng trong nhóm này tạo ra ưu thế cạnh tranh lớn so với các ngân hàng khác theo chấm điểm của Deloitte, đặc biệt là trong các dịch vụ ngân hàng hàng ngày (day-to-day banking), ví dụ như quản lý tài khoản, chuyển khoản, chăm sóc khách hàng…) và các dịch vụ giúp mở rộng quan hệ với khách hàng (expand relationship) như bán chéo, Banca, dịch vụ đầu tư…

Nhờ tiến bộ công nghệ, các kênh bán hàng số của ngân hàng phát triển mạnh mẽ. Nhiều ngân hàng trên thế giới đã cơ cấu lại mạng lưới chi nhánh để tiết giảm chi phí, cũng như chuyển dịch nguồn lực sang đầu tư phát triển các kênh bán hàng số. Tại Mỹ, báo cáo của S&P Global cho biết các ngân hàng đang có xu hướng cắt giảm các chi nhánh vật lý (800 chi nhánh đóng cửa từ đầu năm 2024 – 3/2025), bao gồm cả những ngân hàng lớn như Wells Fargo, Bank of America, JPMorgan Chase và Flagstar. Tương tự, số lượng chi nhánh tại khu vực EU giảm chỉ còn 106.571 chi nhánh vào cuối năm 2024 (giảm hơn 100.000 chi nhánh so với mức đỉnh điểm năm 2008), với mức giảm mạnh nhất vào năm 2023, sau đại dịch COVID-19. Xu hướng tương tự cũng diễn ra tại châu Á, đặc biệt là tại các nền kinh tế phát triển trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc.

Chuyển đổi số cũng khiến quy trình của ngân hàng đang thay đổi theo hướng tự động hóa nhiều hơn. Từ khi mở tài khoản đến chăm sóc khách hàng, các quy trình của ngân hàng đang được các giải pháp công nghệ hỗ trợ để trở nên nhanh chóng, hiệu quả hơn. Ví dụ như ngân hàng DBS đã sử dụng kho dữ liệu sinh trắc học quốc gia của Singapore (Singpass) để tự động kiểm tra thông tin của khách hàng, giúp việc mở tài khoản được thực hiện nhanh chóng và không cần đến các giấy tờ khác; UBS (Thụy Sĩ) đã giảm thời gian xử lý hồ sơ cho vay từ 30-40 phút xuống còn 5-6 phút cũng nhờ công nghệ robot; Ngân hàng Commonwealth (Australia) đã xây dựng trợ lý ảo COBA dựa trên công nghệ AI để hỗ trợ hoạt động chăm sóc khách hàng với khả năng trực tiếp thực hiện các giao dịch thay vì chỉ hướng dẫn đơn thuần… Các sản phẩm dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ đang trở thành những phần không thể thiếu trong danh mục sản phẩm của một ngân hàng hiện đại.

2. Kinh nghiệm quốc tế về pháp lý cho chuyển đổi số ngành ngân hàng

Công nghệ tài chính đã tạo ra nhiều thay đổi tích cực, tuy nhiên cùng với đó là những vấn đề, rủi ro mới. Để ứng phó với những vấn đề này, các quốc gia đã đưa ra các quy định riêng dành cho các sản phẩm, mô hình mới cũng như việc ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực tài chính. Các quốc gia thường dùng nhiều cách tiếp cận khác nhau để cố gắng tạo ra một cơ chế quản lý hợp lý và hiệu quả nhất. Theo báo cáo của World Bank năm 2020, có 4 cách tiếp cận phổ biến đang được các quốc gia trên áp dụng là: (i) Chờ đợi và quan sát và (ii) Thử nghiệm và học hỏi, (iii) Cơ chế thúc đẩy sáng tạo và (iv) Cải cách luật pháp (1). Trong số này, cách tiếp cận chờ đợi và quan sát đã không còn phù hợp với thị trường hiện nay bởi các công nghệ mới có thể phát triển rất nhanh và gây ra nhiều tác động tiêu cực đến thị trường nếu không có sự can thiệp kịp thời. Điều này có thể thấy tại thị trường Trung Quốc với hoạt động cho vay ngang hàng, khi sự phát triển nhanh chóng về số lượng cũng như quy mô của các doanh nghiệp, nền tảng trong lĩnh vực này đã gây ra hậu quả kinh tế đáng kể. Ví dụ như Ezubao, một trong những nền tảng cho vay ngang hàng lớn nhất Trung Quốc, đã hoạt động theo mô hình Ponzi để lừa hơn 900.000 nhà đầu tư trong giai đoạn 2014 – 2016. Vấn đề này không chỉ một xảy ra ở một vài trường hợp, mà theo Ủy ban Giám sát Ngân hàng Trung Quốc (CBRC) thì có tới 40% các nền tảng cho vay ngang hàng vận hành theo mô hình Ponzi tại thời điểm năm 2016. Những vấn đề với thị trường cho vay ngang hàng là một trong những lý do dẫn đến sự thay đổi trong cách tiếp cận của Trung Quốc với công nghệ tài chính. Hiện nay, có thể nói Trung Quốc đã chấm dứt giai đoạn “chờ đợi và quan sát” để chuyển sang các cách tiếp cận khác.

Với 3 cách tiếp cận còn lại, quan sát của nhóm nghiên cứu cho thấy từng quốc gia sẽ căn cứ thực trạng và điều kiện của mình để lựa chọn phương án phù hợp, trong đó có thể kết hợp nhiều cách tiếp cận để đạt được mục tiêu đề ra. Singapore là một quốc gia đã thành công khi kết hợp các cách tiếp cận khác nhau để xây dựng khung pháp lý vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo nhưng vẫn đảm bảo khả năng quản lý rủi ro. Cách tiếp cận “thử nghiệm và học hỏi” được áp dụng với mô hình ngân hàng số toàn phần, khi NHTW Singapore (MAS) ban hành “Tiêu chí và yêu cầu đối với ngân hàng số” vào tháng 12/2019. Theo đó, Singapore sẽ cấp phép cho 2 dạng ngân hàng số là ngân hàng số hoàn chỉnh (digital full bank) và ngân hàng số bán buôn (digital wholesale bank). Với ngân hàng số hoàn chỉnh, quá trình hoạt động sẽ chia làm 3 giai đoạn:

- Giai đoạn gia nhập thị trường (Entry): Yêu cầu vốn điều lệ trong giai đoạn này chỉ là 15 triệu SGD (bằng 1/100 mức quy định với 1 ngân hàng thương mại) và các ngân hàng sẽ bị hạn chế về sản phẩm dịch vụ.

- Giai đoạn phát triển (Progession): Các ngân hàng số sẽ tự đưa ra lộ trình tăng trưởng dựa trên kế hoạch kinh doanh, với mục tiêu đạt được mức vốn điều lệ tối thiểu là 1,5 tỷ SGD. Ở giai đoạn này, các hạn chế sẽ dần được gỡ bỏ theo phê duyệt của MAS.

Các ngân hàng số đang ở trong 2 giai đoạn trên được gọi chung là ngân hàng số bị hạn chế (Retricted Digital Bank).

- Giai đoạn hoạt động hoàn chỉnh (Full Functioning): Ngân hàng số được phép cung cấp đầy đủ các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, đồng thời cũng cần tuân thủ các quy định như một ngân hàng thương mại truyền thống.

Để kiểm soát rủi ro của mô hình này, ngân hàng số ở cả 3 giai đoạn đều phải tuân thủ các tỷ lệ vốn dựa trên rủi ro như một ngân hàng nội địa có tầm quan trọng hệ thống (domestic systemically important bank), mức cao nhất mà một ngân hàng thương mại tại Singapore phải thực hiện.

Với ngân hàng số bán buôn, do hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro với thị trường thấp hơn, nên về cơ bản sẽ thực hiện theo quy định của một ngân hàng bán buôn truyền thống và chỉ có một số hạn chế về sản phẩm dịch vụ được cung cấp.

Cách tiếp cận này cho phép các ngân hàng số tại Singapore được phát triển, trong khi vẫn hạn chế được những tác động tiêu cực trong trường hợp xấu. Hiện nay, đang có 2 ngân hàng số hoàn chỉnh và 2 ngân hàng số bán buôn được MAS cấp phép đang hoạt động trên thị trường.

Singapore cũng áp dụng các tiếp cận “cơ chế thúc đẩy sáng tạo”, với cơ chế Sandbox được ban hành từ rất sớm (2016). Cơ chế này nới lỏng một số quy định, điều kiện pháp lý trong thời hạn hiệu lực của Sandbox (tối thiểu 6 tháng), như là quy định về định hạng tín dụng, quy định về duy trì tài sản tối thiểu hay quy định về cán cân thanh toán. Các quy định cụ thể nào được nới lỏng sẽ phụ thuộc vào tính chất của sản phẩm được thử nghiệm. Khung pháp lý Sandbox này cũng bao gồm các biện pháp đảm bảo an toàn trong trường hợp các Fintech thất bại, với mục tiêu giảm thiểu tối đa các tác động lên hệ thống tài chính. Hiện nay, Singapore đang triển khai 3 sandbox với các tính chất khác nhau: (i) Sandbox thường dành cho những mô hình kinh doanh hay sản phẩm có độ phức tạp cao; (ii) Sandbox Express dành cho các sản phẩm có rủi ro thấp và đã được hiểu rõ bởi thị trường tài chính và (iii) Sandbox Plus - bản cải tiến của Sandbox Express, mở rộng hơn về thành phần tham gia kết hợp với hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp. Các lựa chọn Sandbox đa dạng giúp doanh nghiệp có thể đưa ra quyết định phù hợp nhất với nhu cầu, sản phẩm của mình, từ đó có khả năng thành công cao hơn.

Cách tiếp cận “cải cách pháp lý” được Singapore áp dụng với trường hợp của tài sản mã hóa, cụ thể là Stablecoin. Vào tháng 8/2023, MAS đã ban hành khung pháp lý tổng thể cho Stablecoin, áp dụng với các đồng tiền mã hóa được neo giá trị với 1 đồng tiền pháp định, có thể là SGD hoặc tiền tệ của 1 quốc gia G10, được ban hành trong lãnh thổ Singapore. Đến năm 2024, trong Luật dịch vụ thanh toán sửa đổi (PSA), Singapore đã chính thức công nhận Stablecoin là một phương tiện thanh toán thay vì là một loại tài sản như các đồng tiền mã hóa khác, đồng thời cũng bổ sung thêm những biện pháp để bảo vệ người tiêu dùng tài chính.

3. Chuyển đổi số của lĩnh vực ngân hàng Việt Nam

Nhận thức được tầm quan trọng của chuyển đổi số, ngành Ngân hàng Việt Nam rất quan tâm đến vấn đề này và đưa ra các chiến lược, mục tiêu chuyển đổi số bài bản, dài hạn. Ở cấp độ hệ thống, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Quyết định 810/QĐ-NHNN ngày 11/5/2021 phê duyệt “kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, với những mục tiêu như 50% nghiệp vụ ngân hàng được số hóa, 70% giao dịch khách hàng diễn ra trên nền tảng số và 50% khoản vay nhỏ lẻ và tiêu dùng của cá nhân được tự động hóa. Sau 4 năm triển khai Quyết định 810/QĐ-NHNN, đến nay đã có trên 90% giao dịch ngân hàng tại nhiều tổ chức tín dụng được thực hiện qua kênh số, hơn 87% người trưởng thành tại Việt Nam có tài khoản ngân hàng, nhiều dịch vụ đã được số hóa 100%, giúp rút ngắn thời gian, tiết kiệm chi phí và nâng cao sự thuận tiện cho khách hàng (2). Ngày 3/11/2025, NHNN đã ban hành Quyết định số 3579/QĐ-NHNN phê duyệt “Chiến lược chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2030” (Quyết định 3579) thay thế Quyết định 810/QĐ-NH, với những mục tiêu mới, phù hợp với bối cảnh hiện nay như: phấn đấu 95% dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc các tổ chức được phép khác; giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp 30 lần GDP; ít nhất 80% số lượng giao dịch của khách hàng được thực hiện thông qua các kênh số, 100% cán bộ thuộc các đơn vị được đào tạo kỹ năng số...

Để đạt được những mục tiêu mà NHNN đề ra, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã đầu tư mạnh mẽ cho chuyển đổi số. Riêng trong năm 2024, chi phí đầu tư công nghệ của các ngân hàng niêm yết đều tăng mạnh, đạt 32.437 tỷ đồng, so với mức 26.687 tỷ đồng trong năm 2023 (3). Một số ngân hàng, như BIDV, Vietcombank, Eximbank và VPBank, đã nâng cấp hệ thống Core Banking để đáp ứng nhu cầu phát triển. Số lượt cán bộ của các ngân hàng đã được bồi dưỡng về chuyển đổi số, công nghệ, trí tuệ nhân tạo trong thời gian từ năm 2022 đến ngày 15/5/2025 cũng ghi nhận những con số rất ấn tượng, tiêu biểu như VietinBank (90.825 lượt học), MB (55.402 lượt học), Techcombank (50.942 lượt học), Agribank (47.148 lượt học), BIDV (38.985 lượt học), VIB (35.627 lượt học) (4).

Hoạt động tích hợp công nghệ và giải pháp kỹ thuật mới vào các dịch vụ và sản phẩm ngân hàng cũng được đẩy mạnh:

- Giao diện lập trình ứng dụng (API): Trong vài năm trở lại đây đã chứng kiến sự triển khai và phát triển đáng kể của giao diện lập trình ứng dụng (API) cũng như các Open API trong lĩnh vực ngân hàng. Điển hình là VietinBank iConnect, BIDV Open API, OCB Open API, TPBank Open API…

- Blockchain: Tại Việt Nam, Blockchain được kỳ vọng mang lại rất nhiều lợi ích và thay đổi căn bản hệ thống tài chính - ngân hàng trong tương lai. Tuy nhiên, có thể thấy cho đến nay việc ứng dụng công nghệ này ở Việt Nam nói chung và ngành tài chính ngân hàng Việt Nam nói riêng vẫn đang trong thời kỳ đầu phát triển. Một số ứng dụng đã được triển khai gồm: NAPAS và 3 ngân hàng gồm VietinBank – VIB – TPBank đã thử nghiệm chuyển tiền bằng công nghệ Blockchain; HSBC thực hiện thành công giao dịch L/C trên nền tảng Blockchain giữa CTCP phần Sản xuất Nhựa Duy Tân của Việt Nam và Công ty INEOS Styrolution Korea của Hàn Quốc; TPB chuyển tiền quốc tế thông qua RippleNet, một nền tảng Blockchain được phát triển bởi SBI Ripple Asia….

- Trí tuệ nhân tạo và máy học: Các ngân hàng Việt Nam đã bắt đầu ứng dụng AI, với một số trường hợp sử dụng tiêu biểu là Chatbot/Chatbox tương tác với khách hàng qua các nền tảng mạng xã hội (Facebook, Zalo…); trợ lý ảo hỗ trợ khách hàng 24/7, tư vấn sản phẩm, dịch vụ tài chính; phát hiện giao dịch bất thường giúp nhận diện các hoạt động đáng ngờ như rửa tiền, lừa đảo thẻ tín dụng; đánh giá tín dụng, chấm điểm tín dụng, khả năng trả nợ của khách hàng để quyết định cấp tín dụng, lãi suất và điều khoản vay…

- Sinh trắc học (Biometrics): NHNN đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an triển khai Đề án 06 để làm sạch dữ liệu, xác minh thông tin và đối chiếu thông tin sinh trắc học của khách hàng. Tính đến ngày 26/12/2025, đã có hơn 143 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân và hơn 1,5 triệu hồ sơ khách hàng tổ chức được đối chiếu sinh trắc học qua căn cước công dân gắn chip hoặc ứng dụng VNeID để làm sạch dữ liệu khách hàng. Kết quả là, số lượng khách hàng cá nhân bị lừa đảo, mất tiền giảm gần 60%, số lượng tài khoản cá nhân nhận tiền lừa đảo giảm khoảng 52% so với cùng kỳ năm 2024.

- Điện toán đám mây (Cloud Computing): Quyết định 3579 đã xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 có “100% ngân hàng ứng dụng công nghệ tiên tiến như AI, Big Data, Blockchain, Cloud, Open API, RPA, IoT trong phân tích nhu cầu, tương tác với khách hàng, quản trị rủi ro, chống gian lận, phát triển cung ứng các sản phẩm dịch vụ”. Trước đó tháng 10/2020, NHNN đã ban hành Thông tư 09/2020/TT-NHNN, cho phép các ngân hàng đưa dữ liệu quan trọng, cấp độ 3, 4, 5 lên cloud nếu đảm bảo những quy định an toàn. Hiện nay, đã có nhiều ngân hàng lựa chọn sử dụng dịch vụ điện toán đám mây và phần mềm dưới dạng dịch vụ (SaaS – loại hình dịch vụ Cloud cho phép khách hàng sử dụng trực tiếp các ứng dụng của Nhà cung cấp dịch vụ trên nền tảng điện toán đám mây) từ các đơn vị cung cấp dịch vụ bên thứ ba như Amazon, Microsoft, Google...

Sự đầu tư mạnh mẽ của các ngân hàng đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Trong 11 tháng năm 2025, giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng 42,34% về số lượng và 22,59% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024, đặc biệt giao dịch qua mã QR tăng vọt 54,45% về số lượng và 141,02% về giá trị. Việt Nam cũng đi đầu trong kết nối thanh toán bán lẻ xuyên biên giới, hiện đã triển khai kết nối với Thái Lan, Campuchia, Lào, Trung Quốc hướng tới mở rộng ra Hàn Quốc trong thời gian tới. Các ngân hàng tại Việt Nam cũng đang dần hình thành các hệ sinh thái tài chính của mình, với các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số đã được kết nối liên thông, tích hợp liền mạch, xuyên suốt với các ngành, lĩnh vực khác như đặt xe taxi, đặt vé máy bay, vé xem phim… đem lại nhiều tiện ích cho khách hàng.

4. Hành lang pháp lý cho chuyển đổi số tại Việt Nam: Bước đột phá trong quá trình chuyển đổi số

Giai đoạn trước năm 2024, khung pháp lý về ứng dụng công nghệ trong ngành Ngân hàng nói riêng và lĩnh vực tài chính nói chung còn khá sơ khai, khi Việt Nam sử dụng cách tiếp cận “chờ đợi và quan sát”. Ngoài mảng thanh toán có hành lang pháp lý được phát triển sớm và đầy đủ thì các quy định liên quan đến công nghệ tài chính đang nằm rải rác trong các văn bản quy phạm pháp luật, như Luật Giao dịch điện tử, Luật Công nghệ thông tin, Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23/2/2007 về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính, Nghị định số 35/2007/NĐ-CP ngày 8/3/2007 về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng, Thông tư số 18/2018/TT-NHNN ngày 21/8/2018 về an toàn hệ thống thông tin trong hoạt động ngân hàng... nhìn chung thì vẫn còn nhiều hạn chế, dẫn đến việc các ngân hàng Việt Nam gặp nhiều vướng mắc trong việc ứng dụng những công nghệ tiên tiến.

Từ năm 2024, dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng và Chính phủ, nhiều văn bản pháp lý liên quan đã được ban hành trong giai đoạn 2024 – 2025, tạo ra bước đột phá cho chuyển đổi số của lĩnh vực ngân hàng nói riêng và phát triển kinh tế số tại Việt Nam nói chung.

Đầu tiên phải kể đến Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó đề ra mục tiêu “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại” và “Đổi mới tư duy xây dựng pháp luật bảo đảm yêu cầu quản lý và khuyến khích đổi mới sáng tạo, loại bỏ tư duy “không quản được thì cấm”. Đây là bước tiến đặc biệt quan trọng với chuyển đổi số. Trước đây, đã có trường hợp công nghệ dùng robot đặt lệnh trong lĩnh vực chứng khoán bị cấm do công nghệ này làm gia tăng đột biến tổng số lệnh trong cùng một thời điểm, gây hiện tượng quá tải (tháng 9/2023). Điều này mang lại lợi ích trong ngắn hạn nhưng lại tác động tiêu cực tới quá trình chuyển đổi số trong dài hạn, do đó những thay đổi trong tư duy quản lý, xây dựng pháp luật là cần thiết. Để triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, Chính phủ đã ban hành các Nghị quyết 03/NQ-CP, Nghị quyết 71/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW; NHNN đã ban hành Kế hoạch hành động chi tiết kèm theo Quyết định 1364/QĐ-NHNN ngày 5/3/2025 và thành lập Ban chỉ đạo ngành về phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số theo Quyết định 1364/QĐ-NHNN.

Luật Các TCTD 2024 đã có các bổ sung quan trọng như chính thức luật hóa hoạt động cho vay trực tuyến (trước đây chỉ quản lý ở tầm Thông tư), hay đưa ra quy định cơ chế thử nghiệm (Sandbox) đối với Fintech trong lĩnh vực ngân hàng. Điều khoản liên quan đến sandbox (Điều 106) đặc biệt quan trọng, bởi nó đã chính thức tạo ra cơ sở pháp lý cho việc ban hành Nghị định về cơ chế thử nghiệm, tháo gỡ vướng mắc “Nghị định không đầu” đã khiến cho cơ chế này không thể ban hành trong một khoảng thời gian khá dài (Nghị quyết số 100/NQ-CP thông qua đề nghị xây dựng Nghị định của Chính phủ về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động Fintech trong lĩnh vực ngân hàng đã được ban hành từ năm 2021).

Sau khi được tháo gỡ khó khăn với Luật Các TCTD 2024, ngày 17/6/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 94/2025/NĐ-CP, đưa ra các chuẩn mực, nguyên tắc cho sự vận hành cơ chế thử nghiệm, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng nhưng vẫn đảm bảo khả năng quản lý rủi ro, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Văn bản này thiết lập khuôn khổ pháp lý cho việc thử nghiệm các sản phẩm, mô hình, dịch vụ mới ứng dụng công nghệ trong 3 lĩnh vực là: (i) Chấm điểm tín dụng; (ii) Chia sẻ dữ liệu qua giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API); (iii) Cho vay ngang hàng (P2P Lending). Để triển khai Nghị định này, NHNN đã ban hành 2 văn bản hướng dẫn là Quyết định số 2866/QĐ-NHNN ngày 22/7/2025 quy định về dư nợ tối đa với giải pháp cho vay ngang hàng, Quyết định số 2970/QĐ-NHNN ngày 11/8/2025 ban hành quy định hướng dẫn về việc kết nối, báo cáo và kiểm tra thông tin tín dụng của khách hàng giữa các công ty cho vay ngang hàng và Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC). Đây là một bước tiến quan trọng trong quá trình thể chế hóa đổi mới sáng tạo tài chính tại Việt Nam, đồng thời cung cấp nguồn tư liệu quan trọng để cải cách khung pháp lý của lĩnh vực ngân hàng.

Bên cạnh Nghị định 94, các ngân hàng còn có cơ hội thử nghiệm các công nghệ tài chính mới tại Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) đặt tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Với mục tiêu “phát triển dịch vụ tài chính ứng dụng công nghệ”, Nghị quyết 222/2025/QH15 về Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam đã có điều khoản về “Chính sách tài chính thử nghiệm có kiểm soát cho dịch vụ tài chính ứng dụng công nghệ (Fintech) và đổi mới sáng tạo” (Điều 24). Theo đó, IFC của Việt Nam sẽ có các chính sách tài chính thử nghiệm có kiểm soát và thực hiện dưới hình thức cho phép có thời hạn đối với các công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mà pháp luật chưa có quy định. Đây sẽ là một cơ hội rất tốt để các ngân hàng thử nghiệm những công nghệ mới, đặc biệt là trong các lĩnh vực ngoài 3 nhóm trong khuôn khổ của Nghị định 94.

Ngày 31/12/2024, NHNN đã ban hành Thông tư 64/2024/TT-NHNN quy định về triển khai giao diện lập trình ứng dụng mở trong ngành Ngân hàng. Thông tư này đã đưa ra các quy định cụ thể để triển khai API trong ngành Ngân hàng, như danh mục API, danh mục tiêu chuẩn kỹ thuật, quy định về hợp đồng với bên thứ 3, quyền và trách nhiệm của các bên… Văn bản này giúp giải quyết một vướng mắc đã tồn tại từ lâu là thiếu các quy định chi tiết để triển khai các công nghệ mới trong hoạt động ngân hàng, giúp các ngân hàng có thể tự tin đầu tư mạnh mẽ hơn cho API mà không còn lo ngại những rủi ro về mặt pháp lý.

Một thay đổi khác sẽ có tác động lớn tới quá trình chuyển đổi số của lĩnh vực ngân hàng cũng như sự phát triển của kinh tế số Việt Nam nói chung là việc tài sản số chính thức được hợp thức hóa. Chương V, Luật Công nghiệp công nghệ số 2025 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2026) đã chính thức coi tài sản số, trong đó bao gồm tài sản mã hóa, là một loại tài sản hợp pháp theo Luật Dân sự. Trên cơ sở này, ngày 9/9/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 05/2025/NQ-CP để triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam. Hai văn bản này sẽ giải quyết vấn đề thiếu hành lang pháp lý trong mảng tài sản mã hóa, tiền mã hóa tại Việt Nam, qua đó giúp phát triển thị trường tài sản mã hóa một cách bền vững. Với các ngân hàng, Nghị quyết 05 mở ra các cơ hội kinh doanh mới, khi các ngân hàng có thể tham gia thị trường một cách trực tiếp (góp vốn để thành lập tổ chức thị trường giao dịch) hoặc gián tiếp (cung cấp các dịch vụ hỗ trợ như tín dụng, lưu ký, thanh toán….).

Mặc dù đã có nhiều thay đổi đột phá, vẫn phải thừa nhận rằng còn có nhiều vướng mắc về pháp lý cản trở tiến trình chuyển đổi số của lĩnh vực ngân hàng. Đầu tiên, mặc dù đã được hoàn thiện đáng kể nhưng vẫn còn những lĩnh vực quan trọng của tài chính số, ngân hàng số thiếu khung pháp lý.

Thứ nhất, trong Luật Các TCTD vẫn chưa có quy định về cấp phép cho ngân hàng số 100%. Việt Nam hiện chưa cấp phép hoạt động cho ngân hàng số hoàn toàn. Các trường hợp như Timo hay Cake không có giấy phép để thực hiện nghiệp vụ ngân hàng độc lập và cần có các NHTM có giấy phép bảo trợ (Ngân hàng Bản Việt, VPBank), còn các trường hợp của Vikki Bank, MBV hay VCBNeo là các trường hợp đã có giấy phép từ trước (do tiền thân là các ngân hàng bị chuyển giao bắt buộc). Trong khi đó, trên thế giới thì mô hình ngân hàng này đang ngày càng phổ biến, với nhiều ngân hàng số dù mới thành lập những đã có số lượng người dùng khổng lồ, như Chime của Mỹ với 22,3 triệu người dùng, hay Revolut, ngân hàng số có trụ sở tại Anh, với hơn 50 triệu người dùng trên toàn cầu. Trong bối cảnh Việt Nam đang đề ra mục tiêu xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế hiện đại, thì việc cho phép mô hình ngân hàng số hoàn toàn cũng sẽ là phù hợp với bối cảnh thị trường mới.

Thứ hai, các cơ chế thử nghiệm cho công nghệ tài chính, đổi mới sáng tạo tại Việt Nam còn hạn chế về số lượng. Cơ chế sandbox trong Nghị định 94 còn có quy mô áp dụng rất hạn chế với chỉ 3 mảng hoạt động, còn quá ít so với mức độ đa dạng của hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng. Ngoài ra, tiến độ triển khai Nghị định 94 còn khá chậm, khiến Nghị định 94 vẫn chưa tạo ra được tác động lớn tới lĩnh vực ngân hàng. Trong khi đó, cơ chế thử nghiệm trong IFC khó để tiếp cận. Theo quy định trong Nghị quyết 222/2025/QH15, các ngân hàng nội địa sẽ cần thành lập một ngân hàng con để được hoạt động trong IFC. Yêu cầu này đòi hỏi nguồn lực tài chính rất lớn mới và không nhiều ngân hàng có thể đáp ứng.

Thứ ba, chuyển đổi số cũng kéo theo nhiều rủi ro mới cho ngành Ngân hàng, đặc biệt là vấn đề bảo mật, an ninh mạng. Trên thế giới, các vụ tấn công mạng vào lĩnh vực tài chính đang gia tăng nhanh, với nhiều hình thức phức tạp như ransomware, lừa đảo và tấn công DDoS gây ra tổn thất đáng kể. Bên cạnh đó, sự phát triển của công nghệ AI cũng tạo ra nhiều rủi ro, khi tội phạm mạng đang tạo ra các email lừa đảo cực kỳ tinh vi, các deepfake - hình ảnh, video và âm thanh giả mạo chân thực - có thể được sử dụng cho các chiến dịch mạo danh hay phát triển phần mềm độc hại tiên tiến hơn có thể thích ứng và trốn tránh các biện pháp bảo mật. Việc hợp tác với Fintech hay các đối tác cung cấp giải pháp công nghệ cũng tạo ra những lỗ hổng mới tại các ngân hàng, khi tin tặc đang sử dụng các cuộc tấn công vào bên cung cấp dịch vụ thứ 3 thay vì trực tiếp tấn công vào các ngân hàng được đầu tư tốt cho bảo mật, an ninh mạng.

5. Khuyến nghị, đề xuất

Với Chính phủ, bộ, ngành:

Thứ nhất, tiếp tục tập trung và đẩy mạnh việc triển khai thực hiện Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng, các kế hoạch do NHNN ban hành để thúc đẩy chuyển đổi số ngân hàng, các mục tiêu đề ra tại Nghị quyết 57-NQ/TW, Nghị quyết 71/NQ-CP. Trong đó, điểm quan trọng là chuyển đổi tư duy trong quản lý công nghệ và chuyển đổi số như mục tiêu đề ra trong Nghị quyết 57-NQ/TW, chấp nhận rủi ro hơn để thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Việt Nam có thể học hỏi cách mà Singapore đã làm với ngân hàng số, đó là tạo ra một cơ chế cấp phép từng bước: cho phép các mô hình kinh doanh mới sẽ được hoạt động một cách hạn chế trong giai đoạn đầu và khi đã đủ “lớn” thì sẽ được cấp phép để mở rộng hoạt động kinh doanh.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện thể chế, phối hợp chặt chẽ với các bộ ngành liên quan đẩy nhanh việc rà soát, sửa đổi, ban hành các văn bản pháp luật thúc đẩy và tháo gỡ khó khăn trong TTKDTM, chuyển đổi số ngành Ngân hàng. Trước mắt, cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn để triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng của Nghị định 94, tạo ra môi trường để các ngân hàng, doanh nghiệp có thể triển khai thí điểm các công nghệ mới.

Thứ ba, đầu tư nâng cấp, hoàn thiện hạ tầng phục vụ chuyển đổi số ngành Ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung, như hạ tầng viễn thông, mạng internet, kết nối 5G, cơ sở dữ liệu. Ngành Ngân hàng cần chú trọng việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung để tiến đến mô hình ra quyết định dựa trên dữ liệu.

Thứ tư, tiếp tục triển khai phối hợp liên ngành. Tích hợp, kết nối, chia sẻ thông tin ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác để mở rộng hệ sinh thái tài chính số như mô hình mà các ngân hàng đã triển khai trên thế giới.

Thứ năm, đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục tài chính cho người dân, doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh tội phạm mạng ngày càng gia tăng với diễn biến khó lường. Tăng cường đầu tư cho giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học và sau đại học để cải thiện nguồn cung cấp nhân lực chất lượng cao trong cả mảng tài chính và công nghệ.

Với các ngân hàng:

Thứ nhất, cần quan tâm nhiều hơn cho bảo mật và an ninh mạng. Thời gian qua, đã có nhiều vụ tấn công mạng lớn nhằm vào lĩnh vực tài chính Việt Nam (vụ tấn công mã hóa vào VnDirect, tấn công đánh cắp dữ liệu tại CIC). Do đó, các ngân hàng cần vừa đầu tư cho các biện pháp bảo mật, vừa thực hiện đào tạo nội bộ về kiểm soát rủi ro công nghệ, an ninh mạng cho các cán bộ. Ngoài ra, các ngân hàng cũng cần đánh giá năng lực bảo mật của các đối tác để hạn chế rủi ro bị tấn công thông qua các bên thứ 3, có thể xem xét hỗ trợ các đối tác này cải thiện năng lực bảo mật.

Thứ hai, tăng cường hợp tác với các công ty Fintech để mở rộng hệ sinh thái dịch vụ, tạo ra giá trị gia tăng cho khách hàng. Tuy nhiên, như đã nêu ở phần trên, các ngân hàng cần lưu ý tới năng lực bảo mật khi lựa chọn đối tác Fintech để hạn chế các rủi ro mà mình có thể gặp phải.

Thứ ba, đầu tư cho đào tạo nội bộ, bao gồm những khóa đào tạo, tập huấn chuyên sâu về công nghệ thông tin, bồi dưỡng các nghiệp vụ, cập nhật các kiến thức về kỹ năng vận hành công nghệ số vào các hoạt động, giao dịch trong lĩnh vực tài chính để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, cũng cần xây dựng cơ chế phúc lợi cạnh tranh để có thể thu hút được nhân sự có chất lượng cao.

Chú thích:

(1) How Regulators Respond to Fintech: Evaluating the Different Approaches - Sandboxes and Beyond, World Bank 2020

(2#

(3) #

(4) #

Tài liệu tham khảo:

- Deloitte. (2024). Digital Banking Maturity 2024, truy cập tại: #

- World Bank. (2020). How Regulators Respond to Fintech: Evaluating the Different Approaches - Sandboxes and Beyond

- Thuận Hiền. (2025). Ngân hàng bùng nổ chuyển đổi số, không ai bị bỏ lại phía sau. Truy cập tại: #

- Huy Thắng. (2025). Chuyển đổi số ngân hàng 2025: Kết nối dữ liệu, an toàn giao dịch. Truy cập tại: #

- Bảo Minh. (2025). Các ngân hàng “chịu chi” cho số hóa. Truy cập tại: #

Bài đăng trên Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ số 1 năm 2026

TS. Phạm Thị Hạnh - ThS. Nguyễn Quang Hưng - Ths. Hà Thanh Lương -Ths. Hoàng Tuấn Vũ

Theo: Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ
    Bài cùng chuyên mục

      Tiêu điểm tuần

      • Ảnh bài viết

        Tình hình hoạt động ngành Ngân hàng Việt Nam năm 2025 - triển vọng năm 2026 và một số kiến nghị

      • Happy New Year: Ca khúc năm mới bất hủ

      • XSTTH 15/2, trực tiếp kết quả xổ số Thừa Thiên Huế hôm nay 15/2/2026

      • Giải quyết dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài, khẩn trương hoàn thành, đưa vào sử dụng

      • Phát triển nguồn nhân lực ngành Ngân hàng trong thời đại số

      • Dòng vốn chảy đúng hướng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

      • Không để xảy ra khan hiếm, đầu cơ, tăng giá bất hợp lý trong dịp Tết

      Lãi suất ngân hàng

      Lãi suất 6 tháng cao nhất: PGBank 7.1%
      Lãi suất 12 tháng cao nhất: PGBank 7.2%
      Ngân hàng1T6T12T
      Ngân hàng An Bình3.66.16.1
      Ngân hàng Á Châu3.54.55.3
      Agribank2.645.2
      Ngân hàng Bắc Á4.556.86.85
      Ngân hàng Bảo Việt3.75.55.8

      Tỷ giá ngoại tệ

      Ngoại tệMuaBán
      USD25.75026.160
      EUR29.919,3831.692
      GBP34.364,436.045,24
      JPY162,74174,15
      CNY3.652,433.831,08
      AUD17.843,1518.715,9
      SGD19.954,0720.971,98
      KRW15,518,8
      CAD18.552,1719.459,6
      CHF32.791,1734.395,07

      Giao dịch hàng hoá

      Hàng hoáGiá%
      Vàng5,018.19+0.17%
      Bạc78.18+0.75%
      Dầu WTI66.53+2.28%
      Dầu Brent71.94+2.26%
      Khí thiên nhiên2.97-1.23%
      Đồng5.77-0.61%
      Cà phê Hoa Kỳ loại C285.85+0.25%
      Cà phê London3,625.00-1.57%
      Than cốc luyện kim Trung Quốc1,633.000.00%
      Xăng RBOB2.01+2.37%
      Banker.vn Logo

      Trang tin tức tài chính - ngân hàng hàng đầu Việt Nam. Cập nhật nhanh chóng, chính xác các thông tin về lãi suất, tỷ giá, chứng khoán và thị trường tài chính.

      Chuyên mục

      • Ngân hàng
      • Thị trường
      • Tài chính
      • Quốc tế
      • Công nghệ
      • Xã hội

      Tin tức

      • Đầu tư
      • Năng lượng
      • FTA
      • Tin ngân hàng
      • Tin chứng khoán

      Công cụ

      • Công cụ tài chính
      • Từ điển thuật ngữ
      • Bảng giá VN30
      • Về chúng tôi
      • Liên hệ quảng cáo
      • Điều khoản sử dụng
      • Chính sách bảo mật

      Liên hệ

      • 16 Văn Cao, P. Liễu Giai,
        Q. Ba Đình, Hà Nội
      • 024.3999.2518
      • info@ubgroup.vn

      Dashboard Ngân hàng

      BIDVBIDVAgribankAgribankVietcombankVietcombankLPBankLPBankXem tất cả

      Đọc tin theo Ngân hàng

      ACBABBankBAC A BANKCBBankCo-opBankDongA BankTPBankTechcombankVietcombankVietinBankBIDVAgribankNAM A BANKSeABankSacombankLienVietPostBankHDBankVPBankNCBVietA BankKienlongbankSCBSHBSaigonbankSBVBAOVIET BankMBMBBankOceanbankGPBankPG BankVIBMSBEximbankPVcomBankVietbankNgân hàng Bản ViệtHSBCShinhan BankStandard CharteredWoori BankCIMB BankPublic BankHong Leong BankUOBANZIVBVRBVDBNgân hàng Chính sách xã hộiNgân hàng Nhà nước

      Đơn vị chủ quản: Công ty Cổ phần Tập đoàn UB

      Giấy phép số 2489/GP-TTĐT do Sở TT&TT TP. Hà Nội cấp ngày 27/08/2020

      ĐKKD số 0106080414 do Sở KH&ĐT TP. Hà Nội cấp ngày 09/01/2013

      Chịu trách nhiệm nội dung: Vũ Việt Hưng

      Mọi hành vi sao chép nội dung cần ghi rõ nguồn Banker.vn

      © 2026 Banker.vn - Bản quyền thuộc về Công ty Cổ phần Tập đoàn UB

      RSS Feed|Thiết kế bởi UB Group