- Bộ Công an đề xuất cơ chế cộng điểm, xếp hạng công dân số tích cực
- Cân đối, bố trí đủ nguồn vốn cho 2 mục tiêu chương trình sức khoẻ và dân số
- Khung pháp lý cho công tác dân số và phòng bệnh có gì mới?
Chương trình nhằm tăng tỷ lệ sinh để đạt và duy trì mức sinh thay thế trên phạm vi cả nước, đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực, góp phần thực hiện Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững.
Theo mục tiêu đề ra, đến năm 2030, tổng tỷ suất sinh trên toàn quốc tăng trung bình 2% mỗi năm. Trên 95% cặp vợ chồng, nam và nữ trong độ tuổi sinh đẻ được cung cấp thông tin về kết hôn, sinh con để đạt và duy trì mức sinh thay thế. 100% tỉnh, thành phố thực hiện các chính sách hỗ trợ cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi con.
margin: 15px auto;" />Nhiều chính sách khuyến sinh để đảm bảo mức sinh thay thế. Ảnh minh họa
Chương trình yêu cầu rà soát, đề xuất sửa đổi các quy định không còn phù hợp với mục tiêu duy trì vững chắc mức sinh thay thế, đặc biệt là quy định xử lý vi phạm chính sách dân số hiện hành. Đề xuất ban hành quy định đề cao tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong sinh con, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc.
Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng cân đối ngân sách nhà nước, các địa phương xây dựng chính sách hỗ trợ cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi con để duy trì mức sinh thay thế bền vững. Chính sách ưu tiên đối với tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế và dân tộc thiểu số rất ít người.
Chương trình bổ sung chính sách khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ 2 con, phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi trên cơ sở phân tích, đánh giá tác động của chính sách lao động, việc làm, nhà ở, phúc lợi xã hội, giáo dục, y tế đến tình trạng sinh ít con, đồng thời xây dựng và triển khai các mô hình can thiệp phù hợp.
Bên cạnh đó, mở rộng tiếp cận dịch vụ sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình và các dịch vụ liên quan. Dịch vụ được phổ cập đến mọi người dân, bảo đảm công bằng, bình đẳng trong tiếp cận và sử dụng, không phân biệt giới, tình trạng hôn nhân.
Đồng thời, xây dựng và triển khai các loại hình dự phòng vô sinh tại cộng đồng, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ và phát triển mạng lưới hỗ trợ sinh sản.
Đối với vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, tổ chức loại hình cung cấp dịch vụ phù hợp; tăng cường tư vấn, kiểm tra sức khỏe, phát hiện sớm và phòng tránh các yếu tố nguy cơ dẫn đến sinh con dị tật hoặc mắc bệnh ảnh hưởng đến chất lượng dân số.

