ASEAN+3 đối mặt với cú sốc năng lượng do xung đột ở Trung Đông: Phép thử cho khả năng chống chịu
(Banker.vn) ASEAN+3 đang đối mặt với cú sốc năng lượng lớn nhất kể từ năm 2022, nhưng từ một vị thế mạnh mẽ hơn và với sự cấp bách hơn trong việc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi năng lượng.
Chiến dịch quân sự của Mỹ và Israel đối với Iran bắt đầu vào ngày 28/2/2026 đã gây ra sự gián đoạn nghiêm trọng nhất đối với thị trường năng lượng toàn cầu kể từ năm 2022. Eo biển Hormuz – nơi thường vận chuyển khoảng 1/5 lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) toàn cầu – đã bị đóng cửa hoàn toàn đối với hoạt động vận tải thương mại. Giá dầu đã tăng vọt lên trên mức trước xung đột và vẫn duy trì ở mức cao và biến động mạnh.
Đối với ASEAN+3, khối các nước nhập khẩu hơn 1/3 lượng dầu khí từ Trung Đông, rủi ro là trực tiếp. Những rủi ro này – như chi phí nhập khẩu năng lượng tăng cao, lạm phát gia tăng và điều kiện tài chính có thể thắt chặt hơn – không nên bị xem nhẹ.
Theo ước tính nội bộ của Văn phòng nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (AMRO), nếu giá dầu duy trì ở mức cao khoảng 90 USD/thùng trong thời gian còn lại của năm, lạm phát trong khu vực có thể tăng thêm 0,7 điểm phần trăm và tăng trưởng giảm 0,2 điểm phần trăm.
Nhưng đây không phải là những năm 1970. Thậm chí cũng không phải năm 2022. Theo TS. Dong He - kinh tế trưởng AMRO cùng nhóm nghiên cứu, ASEAN+3 bước vào giai đoạn này từ một vị thế mạnh mẽ – về điều kiện kinh tế vĩ mô, không gian chính sách sẵn có để ứng phó, và về cách thức cấu trúc nền kinh tế của các thành viên đã thay đổi.
Bước vào giai đoạn mới từ sức mạnh
Điểm khởi đầu kinh tế vĩ mô của khu vực khá vững chắc. ASEAN+3 ước tính tăng trưởng 4,3% trong năm 2025 – một sự mở rộng mạnh mẽ diễn ra bất chấp sự thay đổi đáng kể nhất trong chính sách thương mại của Mỹ trong nhiều thập kỷ. Lạm phát khu vực chỉ ở mức 0,9%, thấp hơn nhiều so với mức trung bình dài hạn.
Điểm khởi đầu với lạm phát thấp này là một vùng đệm quan trọng. Nó giúp các ngân hàng trung ương và các cơ quan tài chính có nhiều dư địa hơn để hấp thụ cú sốc giá do nguồn cung gây ra mà không bị buộc phải thắt chặt chính sách gây tổn hại đến tăng trưởng.
Dự trữ dầu mỏ chiến lược tạo thêm một lớp bảo vệ trong ngắn hạn. Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đều nắm giữ lượng dự trữ dầu mỏ khẩn cấp đáng kể, trong khi các thỏa thuận dự trữ dầu mỏ giữa các nước ASEAN ngày càng trở nên phổ biến. Những nguồn dự trữ này không thể ngăn chặn sự tăng giá đột biến, nhưng chúng làm giảm nguy cơ thiếu hụt nguồn cung vật chất ngay lập tức và giúp các nhà hoạch định chính sách có thêm thời gian để ứng phó một cách có trật tự hơn.
Trong ngắn hạn, ưu tiên của chính sách tiền tệ sẽ là duy trì điều kiện thị trường ổn định hơn là thắt chặt quá sớm để đối phó với cú sốc nguồn cung. Đồng thời, các ngân hàng trung ương cần phải luôn cảnh giác. Nếu áp lực lạm phát lan rộng ra ngoài giá năng lượng và trở nên trầm trọng hơn, thì cần phải có phản ứng chính sách.
Về mặt tài chính, can thiệp tốt nhất nên nhắm vào các nhóm dễ bị tổn thương thông qua các biện pháp minh bạch, có thời hạn, thay vì trợ cấp trên diện rộng làm sai lệch tín hiệu giá cả và làm suy yếu không gian tài chính cần thiết nếu xung đột leo thang. Các nhà hoạch định chính sách cũng nên theo dõi những diễn biến ngoài giá năng lượng hiện tại: sự gián đoạn trong vận chuyển và hậu cần có thể báo hiệu những tác động kinh tế rộng lớn hơn trong tương lai.
Một khu vực có cấu trúc khác biệt
Ngoài yếu tố chu kỳ kinh tế và các lựa chọn chính sách hiện có, theo các chuyên gia của AMRO, còn có một lý do sâu xa hơn cho sự tự tin thận trọng: cấu trúc của các nền kinh tế ASEAN+3 đã thay đổi theo hướng khiến chúng ít bị tổn thương hơn đáng kể trước những cú sốc giá dầu so với một thế hệ trước.
Sự thay đổi bắt đầu từ cường độ sử dụng năng lượng, các chuyên gia nhận định. Trên khắp ASEAN+3, lượng năng lượng cần thiết để sản xuất một đơn vị GDP đã giảm từ 20 đến 30% kể từ năm 2000. Mỗi đô la sản lượng ít bị ảnh hưởng bởi biến động giá năng lượng hơn so với hai thập kỷ trước. Điều này làm suy yếu kênh truyền dẫn cốt lõi từ giá dầu đến GDP, nhưng đó chỉ là lớp đầu tiên.
Thứ hai là sản xuất điện. Trên khắp khu vực, hệ thống điện đã đa dạng hóa đáng kể. Tỷ lệ công suất điện lắp đặt từ các nguồn năng lượng tái tạo ở Trung Quốc đã đạt hơn 50% vào năm 2024. Tại Nhật Bản, tỷ lệ này đã tăng lên hơn 30%. Trong khu vực ASEAN, năng lượng tái tạo chiếm khoảng một phần ba tổng công suất điện lắp đặt.
Xét trên toàn bộ nền kinh tế, năng lượng tái tạo hiện chỉ chiếm khoảng 10% tổng lượng tiêu thụ năng lượng của ASEAN+3 tính trung bình. Vẫn còn khoảng cách giữa công suất lắp đặt và mức tiêu thụ thực tế, nhưng hướng tiến bộ là rất đáng kể.
Sự thay đổi thứ ba nằm ở lĩnh vực vận tải, vốn là kênh truyền thống chính mà qua đó những cú sốc giá dầu tác động đến người tiêu dùng. Tỷ lệ sử dụng xe điện đã tăng lên đáng kể. Tại Trung Quốc, gần sáu trong mười chiếc xe mới bán ra vào năm 2025 là xe điện, và trên khắp khu vực, doanh số bán xe điện đã tăng hơn 60% từ năm 2022 đến năm 2024. Sự chuyển đổi cấu trúc này không xuất hiện trong các giai đoạn giá dầu trước đây.
Nhìn chung, các chuyên gia của AMRO cho rằng, với cường độ sử dụng năng lượng thấp hơn, cơ cấu nguồn điện đa dạng hơn và giai đoạn đầu của quá trình điện khí hóa giao thông, những phát triển này thể hiện sự giảm đáng kể mức độ ảnh hưởng của biến động giá dầu đối với nền kinh tế khu vực.
Công việc chưa hoàn thành
Những thay đổi cấu trúc này là có thật. Nhưng chúng vẫn chưa hoàn thiện, và cuộc xung đột hiện tại đã phơi bày những điểm yếu còn tồn tại.
Nhiên liệu hóa thạch vẫn chiếm ưu thế trong tổng lượng tiêu thụ năng lượng sơ cấp ở phần lớn khu vực. Việc kết nối lưới điện xuyên biên giới trong ASEAN vẫn đang ở giai đoạn đầu. Và không giống như dầu mỏ, trữ lượng khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) vẫn còn hạn chế – một khoảng trống mà việc đóng cửa eo biển Hormuz, làm mất đi 1/5 nguồn cung LNG toàn cầu, đã cho thấy rõ.
Một cuộc xung đột kéo dài vẫn sẽ dẫn đến chi phí năng lượng cao hơn và những sự đánh đổi chính sách khó khăn cho khu vực. Không có gì trong những cải thiện về cấu trúc được mô tả ở trên có thể xóa bỏ thực tế đó.
Nhưng khu vực đang phải đối mặt với cú sốc này khác biệt đáng kể so với khu vực từng trải qua các giai đoạn trước đó – sử dụng năng lượng hiệu quả hơn, đa dạng hơn về nguồn năng lượng, và ít phụ thuộc vào dầu mỏ hơn trong lĩnh vực giao thông vận tải.
Tuy nhiên, điểm quan trọng hơn cả là tầm nhìn hướng tới tương lai. Sự kiện này là lời nhắc nhở mạnh mẽ rằng chuyển đổi năng lượng không chỉ là yêu cầu cấp thiết về môi trường mà còn là yêu cầu cấp thiết để đảm bảo sự ổn định kinh tế vĩ mô. ASEAN+3 đã bắt đầu tiến theo hướng này. Lý do để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi đó giờ đây càng trở nên mạnh mẽ hơn.
V.A

