Áp lực từ xung đột tại Trung Đông: Tỷ giá được dự báo vẫn giữ nhịp ổn định
(Banker.vn) Dù xung đột leo thang tại Iran và khu vực Trung Đông đang đẩy giá dầu lên cao và làm thay đổi kỳ vọng về lãi suất của FED, nhưng bức tranh tỷ giá tại Việt Nam năm 2026 vẫn được giới phân tích nhìn nhận lạc quan. Nhờ sự hỗ trợ từ dòng vốn FDI ổn định và thặng dư thương mại bền vững, áp lực từ địa chính trị Trung Đông được dự báo sẽ chỉ mang tính thời điểm, giúp đồng VND duy trì biên độ biến động trong tầm kiểm soát.
Trong báo cáo “Đánh giá sự kiện xung đột Mỹ - Iran – đánh giá nhanh tác động tới Việt Nam” vừa công bố, các chuyên gia thuộc Công ty Chứng khoán VNDirect cho biết, các cú sốc xung đột địa chính trị luôn tác động ngay đến giá dầu, tuy nhiên, phần nhiều sau đó sẽ dần hạ nhiệt. Và những đợt biến động giá mạnh luôn gắn chặt tới những biến động thực chất trong cán cân cung/cầu.
Dù xung đột leo thang tại Iran và khu vực Trung Đông, giá dầu có thể sẽ tiếp tục tăng trong ngắn hạn. Nhưng mức độ gia tăng sẽ thấp hơn so với thời điểm khủng hoảng Ukraine khi bức tranh cung/cầu hiện nay đã cải thiện (so với thời điểm Covid) và tác động của Iran lên nguồn cung toàn cầu là thấp hơn nhiều so với Nga.
Tuy vậy, giá dầu tăng sẽ tác động ngay tới lạm phát toàn cầu. Báo cáo cho biết, trong kịch bản giá dầu Brent tăng lên 100 USD/thùng, lạm phát toàn cầu có thể tăng thêm 0,6-0,7%, buộc các ngân hàng trung ương duy trì lập trường chính sách thận trọng hơn.
margin: 15px auto;" />Các chuyên gia VNDirect cho rằng, tác động quan trọng nhất không nằm ở giá dầu đơn thuần, mà ở phản ứng chính sách của Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Thị trường hiện kỳ vọng FED có 2 đợt giảm lãi suất trong năm, tổng cộng 50 điểm cơ bản, đưa lãi suất liên bang về 3,00-3,25% vào cuối năm 2026. Tuy nhiên, nếu giá năng lượng tăng khiến lạm phát Mỹ duy trì trên mục tiêu 2%, FED có thể trì hoãn lộ trình nới lỏng.
Khi FED chậm hạ lãi suất, đồng USD có xu hướng mạnh lên trong ngắn hạn nhờ vai trò tài sản trú ẩn và lợi thế Mỹ là nước xuất khẩu ròng năng lượng. VNDirect cảnh báo vốn đầu tư gián tiếp có thể rút khỏi các thị trường cận biên và mới nổi trước rủi ro địa chính trị gia tăng, qua đó gây áp lực lên tỷ giá trong nước.
Với Việt Nam, rủi ro không chỉ đến từ dòng vốn, mà còn từ lạm phát nhập khẩu. Việt Nam nhập siêu dầu thô và xăng dầu. Nhiên liệu chiếm khoảng 4% và nhóm giao thông chiếm 9,8% trong rổ CPI. Nếu giá dầu bình quân năm 2026 tăng lên 90-100 USD/thùng, lạm phát có thể lên tới khoảng 4,5% theo ước tính của VNDirect.
"Xung đột Mỹ–Iran và khả năng FED chậm hạ lãi suất khiến dư địa chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bị hạn chế, trong bối cảnh rủi ro lạm phát, lãi suất và tỷ giá cùng gia tăng. Lạm phát tăng sẽ thu hẹp dư địa nới lỏng tiền tệ và làm gia tăng áp lực lên mặt bằng lãi suất", các chuyên gia VNDirect nhận định.
Dẫu vậy, vẫn còn đó những yếu tố hỗ trợ sự ổn định của tỷ giá trong năm 2026. Theo VNDirect, nếu xung đột không leo thang thành chiến tranh khu vực và được kiểm soát trong thời gian ngắn, tác động đến chuỗi cung ứng năng lượng có thể được giới hạn. Đồng thời, nguồn cung ngoại tệ từ giải ngân FDI ổn định và thặng dư thương mại hàng hóa tiếp tục là các yếu tố nâng đỡ tỷ giá trong nước.
Chuỗi tác động vì vậy cần nhìn theo trình tự: xung đột địa chính trị làm tăng rủi ro nguồn cung dầu, kéo giá năng lượng đi lên, làm gia tăng lạm phát toàn cầu, điều chỉnh kỳ vọng chính sách của FED, thúc đẩy USD mạnh hơn trong ngắn hạn và tạo áp lực lên tỷ giá tại các nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam.
Trong kịch bản xung đột kéo dài và giá dầu duy trì ở mức cao, tỷ giá USD/VND có thể chịu sức ép rõ nét hơn trong năm 2026. Ngược lại, nếu căng thẳng hạ nhiệt và thị trường năng lượng ổn định trở lại, tác động đến tỷ giá nhiều khả năng chỉ mang tính thời điểm. Với nền kinh tế phụ thuộc lớn vào thương mại và dòng vốn quốc tế, diễn biến tại Trung Đông vì vậy vẫn là biến số cần theo dõi sát trong điều hành vĩ mô thời gian tới.
Trong dài hạn, các chuyên gia phân tích thuộc Công ty Chứng khoán MB (MBS) dự báo, áp lực lên tỷ giá sẽ hạ nhiệt. Bởi, yếu tố hỗ trợ cho tỷ giá chủ yếu nhờ xu hướng suy yếu của USD, được dự báo sẽ tiếp tục do chịu tác động của sự phân hóa chính sách tiền tệ giữa các nước. Chỉ số DXY được dự báo sẽ giảm xuống ngưỡng 95 điểm từ giữa năm 2026, trong khi phần lớn các đồng tiền chủ chốt như Yên Nhật, Bảng Anh và EUR đều được kỳ vọng tăng giá. Đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi, bao gồm cả Việt Nam, cũng sẽ được hưởng lợi khi chênh lệch lãi giữa Mỹ và các nước này thu hẹp.
Ở chiều ngược lại, các áp lực lên tỷ giá trong năm 2026 vẫn hiện hữu, có thể kể đến như: Mặc dù Việt Nam ghi nhận mức thặng dư thương mại hơn 20 tỷ USD trong năm 2025, song phần lớn thặng dư thương mại đến từ nhóm FDI trong khi khối doanh nghiệp trong nước ghi nhận thâm hụt gần 30 tỷ USD, cho thấy nhu cầu USD trong nước vẫn rất lớn trong chu kỳ mở rộng sản xuất; nhập khẩu sẽ tăng trưởng đồng tốc với xuất khẩu trong năm 2026, chủ yếu tăng trưởng nhập khẩu từ Mỹ khi Việt Nam cần tiếp tục thu hẹp thâm hụt thương mại tại thị trường này; giá vàng quốc tế được dự báo sẽ tiếp tục trên ngưỡng 5.000 USD/ounce trong thời gian tới do bất ổn địa chính trị và nhu cầu tài sản an toàn của nhà đầu tư tăng cao. Nhu cầu nhập khẩu vàng tăng cũng sẽ tạo áp lực lên tỷ giá trong nước.
“Cân bằng giữa các yếu tố trên, chúng tôi cho rằng tỷ giá sẽ ổn định hơn trong năm 2026 với mức tăng 2,5% - 3%”, các chuyên gia MBS dự báo.
Đoàn Hằng

